cot-song Các chứng đau lưng thông thường là tình trạng của một cột sống lành mạnh bị “trục trặc” do ảnh hưởng của môi trường lao động, hoạt động thể thao, suy thoái do tuổi già, hoặc sự mất cân bằng giữa khả năng lao động của cột sống với yêu cầu lao động hàng ngày.

I. CHỨC NĂNG CỦA CỘT SỐNG

Cột sống là một tập hợp 24 đốt sống, bắt khớp cùng nhau tạo một chuỗi xương dài hướng thẳng đứng, có 3 chức năng:

1. Là cột trụ chính chống đỡ cho cơ thể con người đứng thẳng.

2. Là một chuỗi khớp xương rất di động giúp cho đầu và thân vận động đa dạng, thoải mái. Cột sống cũng giúp cho sự vận động tứ chi của con người có thể lao động và hoạt động thể thao.

3. Là một ống dài bảo vệ tủy sống, phần kéo dài của não bộ và nơi xuất phát các rễ thần kinh đi khắp phủ tạng, các bắp thịt và da.

II. CÁC THÀNH PHẦN CẤU TẠO ĐOẠN ĐỐT SỐNG DI ĐỘNG

Mỗi khớp của cột sống (được gọi là đoạn đốt sống di động Junghanns) bao gồm các bộ phận:

1. Hai đốt sống (trên và dưới kề nhau) có hai phần:

a. Thân đốt sống ở phía trước.

b. Hai mõm khớp sau, bắt khớp nối hai đốt sống.

- Chức năng chính của các đốt sống là chịu lực và chống đỡ cơ thể.

- Các đốt sống không có các tận cùng thần kinh cảm giác nên không đau khi bị chấn thương.

2. Đĩa đệm

Là phần nằm xen kẽ giữa hai thân đốt sống, bao gồm:

a. Nhân keo đĩa đệm hình trái xoan ở trung tâm, nằm hơi lùi ra phía sau, thành phần chủ yếu là nước (88% khi mới sinh và 70% ở tuổi trung niên). Có thể di động trong đĩa đệm và xẹp thấp tạm thời.

b. Các vòng xơ sụn

Bao quanh nhân keo, số vòng xơ phía sau ít, chỉ bằng nửa số vòng phía trước, phần vòng xơ phía sau mỏng và yếu.

c. Các bản mặt sụn

Ở phía trên và phía dưới đĩa đệm, nối kết đĩa đệm với hai thân đốt sống trên và dưới.

- Chỉ có các vòng xơ ngoài cùng phía sau là có các tận cùng thần kinh cảm giác và đau đớn khi bị kích thích.

Đĩa đệm có hai chức năng:

- Là “một túi mềm” giữ chức năng như một “ống nhún giảm tốc” tiếp nhận mọi áp lực dư thừa tác động lên cột sống khi lao động.

- Là “một trục cầu bánh chè” giúp cho hai đốt sống vận động chung quanh một cách trơn tru (cúi ngửa, nghiêng hai bên, xoay cột sống), nhờ khả năng của đĩa đệm tạm thời thay đổi hình dạng khi các đốt sống vận động (thí dụ: cúi về trước, ngửa ra sau).

- Muốn các vận động của hai đốt sống thực hiện phù hợp với sự biến dạng của đĩa đệm, các vận động phải được tiến hành từ tốn, nhịp nhàng. Động tác vội vã, “lỗi nhịp” của các đốt sống sẽ làm kẹt đĩa đệm, gây đau đớn.

3. Các dây chằng

Là các bản sợi dẹt siết giữ vững vàng các đốt sống và đĩa đệm vào với nhau, giữ cho chuỗi cột sống ở tư thế thẳng đứng.

Chỉ có dây chằng dọc sau cột sống mới có tận cùng thần kinh cảm giác và gây đau đớn khi bị tổn thương.

4. Hệ thống các bắp thịt

- Không nằm trong đoạn đốt sống di động, song hệ thống các bắp thịt là thành phần rất quan trọng: tăng cường sự vững chắc của toàn bộ cột sống khi vận động và chia xẻ phần lớn sức nén ép lên cột sống khi lao động.

- Giống như các dây néo cột buồm.

- Các bắp thịt đều có các tận cùng thần kinh cảm giác và gây đau đớn khi bị tổn thương.

- Chỉ có thành phần xương là không có tận cùng thần kinh cảm giác và không gây đau đớn khi bị tổn thương.

Tất cả bốn yếu tố cấu tạo đoạn đốt sống di động nói trên lúc bình thường hoạt động phối hợp nhịp nhàng đồng bộ sẽ đảm bảo cho cột sống vận động tốt và tiếp nhận mọi lực nén lên cột sống khi lao động. Ta nói là có sự cân bằng giữa khả năng chịu lực và lao động của đoạn đốt sống di động (cung) với yêu cầu lao động trong các công việc hàng ngày (cầu), như vậy:

Khi cung = cầu, cột sống không bị đau đớn.

Ngược lại nếu mất cân bằng giữa cung và cầu: cung < cầu gây các chứng đau lưng.

III. CON NGƯỜI ĐỨNG THẲNG TRÊN HAI CHÂN

Một thách thức nghiệt ngã đối với khả năng chịu đựng của cột sống.

Các kết quả của ngành khảo cổ học đã khẳng định.

- Tổ tiên chung của loài người và loài khỉ hắc tinh tinh là Proconsul (Hopwood), một động vật không có đuôi còn đi trên bốn chân, di chuyển chậm trên cây, có khả năng chuyển từ cây này sang cây khác nhờ các bàn tay (bộ primate) sống cách đây khoảng mười tám triệu năm.

- Một trong các mẫu người đầu tiên đứng trên hai chân được D. Johanson phát hiện ngày 30/11/1974 (châu Phi) là một phụ nữ tuổi khoảng 20, cao chừng 1 mét cân nặng 30kg, được đặt tên nàng “Lucy”, ký hiệu AL 288-1 (Phạm Thành Hỗ, 1998).

- Điều chúng ta quan tâm ở đây là:

Cột sống của loài người hoàn toàn là hình mẫu của loài động vật đi bốn chân (chỉ trừ không có các đốt sống đuôi).

Có thể suy ra:

1. Ở vật đi bốn chân, trọng lượng cơ thể phân bổ đều cho từng đốt sống.

Ở người đứng trên hai chân thì đoạn đốt sống di động thắt lưng cuối cùng (L5-S1) chịu sức tì nén lớn nhất.

Nếu một người cân nặng 50kg thì áp suất tì nén lên đĩa đệm L5-S1 ở tư thế đứng nghỉ bằng 50%, tức là 25kg (Dupuis, 1986).

2. Các tư thế khác nhau (trừ tư thế nằm) và sự vận động của cột sống con người tạo nên các áp lực lên đĩa đệm L5-S1 đều lớn hơn áp lực tư thế đứng yên.

Một người dùng hai tay nhấc một quả tạ nặng 90kg, đầu gối duỗi thẳng thì áp lực lên đĩa đệm nói trên là 672,9kg (Dupuis, 1986).

Thực sự các cơ lưng và áp lực trong ổ bụng (cơ hoành và các cơ thành bụng) hỗ trợ chịu một phần lớn lực nén ép.

Kết luận

- Cột sống con người, đặc biệt ở vùng L5-S1, luôn luôn chịu một sức tì đè khủng khiếp trong hoạt động đi lại và lao động.

- Yamada (1962) cho rằng: Loài người chưa hoàn toàn thích nghi với tư thế thẳng đứng.

- Tư thế cột sống đứng thẳng là nguyên nhân cơ bản nhất làm cho cột sống mảnh mai, dễ bị các chứng đau lưng thông thường.

IV. CHỨNG ĐAU LƯNG THÔNG THƯỜNG VÀ SỰ HÌNH THÀNH GAI CỘT SỐNG

Các chứng đau lưng thông thường là tình trạng của một cột sống lành mạnh bị “trục trặc” do ảnh hưởng của môi trường lao động, hoạt động thể thao, suy thoái do tuổi già, hoặc sự mất cân bằng giữa khả năng lao động của cột sống với yêu cầu lao động hàng ngày.

Xin chỉ nêu các chứng đau lưng điển hình ở vùng thắt lưng L5-S1, là đoạn đốt sống di động bị nhiều đe dọa nhất.

Các thành phần cấu tạo đoạn đốt sống di động đều trải qua quá trình thoái hóa theo tuổi tác. Đó là một quá trình suy mòn tất yếu xảy ra với tất cả mọi người, thường thấy đĩa đệm bị suy mòn sớm và rõ nhất, sau đó đến các thành phần khác.

Lần lượt xảy ra 4 giai đoạn:

1. Lỏng lẻo đoạn đốt sống di động.

2. Lồi đĩa đệm.

3. Thoát vị đĩa đệm.

4. Hình thành gai cột sống.

Có thể gặp một trong các hiện tượng thoái hóa sau đây:

1. Thoái hóa bình thường theo tuổi tác

- Đĩa đệm giảm bớt nước và xẹp thấp dần.

- Đoạn đốt sống di động lỏng lẻo dần.

- Các dây chằng tăng cường xiết chặt đoạn đốt sống di động.

a. Toàn bộ quá trình thoái hóa theo tuổi tác diễn biến âm thầm, không gây chứng đau lưng nào cho đến hết tuổi già.

b. Chứng đau lưng do các trục trặc nhỏ của cột sống.

Cũng đôi khi xuất hiện sớm hiện tượng thoái hóa này khiến nhiều bệnh nhân trẻ thấy đau lưng. Chụp X-quang cột sống hoàn toàn lành mạnh, bình thường. Đặc điểm chung của nhóm bệnh này là:

- Rất trẻ (thanh thiếu niên).

- Học hành hoặc lao động rất căng thẳng suốt ngày đêm.

- Không tập thể dục, không chơi thể thao.

Đây thuộc nhóm bệnh cung của cột sống rất yếu, không đáp ứng được nhu cầu làm việc cao. Bệnh xuất hiện rất sớm, có khi trước thời kỳ thoái hóa nên không thấy hình ảnh gai cột sống.

Nếu bệnh nhân thực hiện đầy đủ phác đồ điều trị sau:

- Nằm nghỉ ngơi.

- Dùng thuốc giảm đau chống viêm.

- Tập thể dục chữa bệnh thích hợp.

Bệnh sẽ khỏi nhanh chóng; Nếu tiếp tục luyện tập thể dục bệnh sẽ không tái phát.

2. Mức độ thoái hóa thứ hai

- Đĩa đệm mất nước và khô nhanh hơn.

- Các dây chằng xiết chặt nhưng ít hiệu quả.

- Các bắp thịt phải hoạt động tăng cường, quá sức.

- Các bắp thịt đau cứng: tính chất đau kiểu cơ học khu trú ở vùng đoạn đốt sống bị bệnh.

- Hình thành các gai cột sống phía trước và hai bên để hỗ trợ đoạn đốt sống di động (không gây đau đớn).

3. Mức độ thoái hóa thứ ba

- Đĩa đệm mất nước và khô nhanh hơn nữa.

- Vòng xơ đĩa đệm bị nứt (nhất là vòng xơ ở phía sau).

- Nhân đĩa đệm thâm nhập vào các khe nứt vòng xơ.

- Đĩa đệm lồi ra phía sau, kích thích dây chằng dọc sau cột sống gây đau.

- Nếu đĩa đệm lồi ra phía trước, sẽ kích thích thêm sự hình thành gai cột sống và không gây đau.

- Các bắp thịt hoạt động hỗ trợ quá mức, co cứng và đau.

- Ơ Ûgiai đoạn này tính chất đau cơ học biểu hiện thêm: Bệnh nhân ngồi mau mỏi hơn, khi cúi lưng ra trước không thể thẳng lưng trở lại.

* Chứng đau cấp tính do kẹt đĩa đệm:

Khi cúi lưng ra trước chuẩn bị nhấc một vật nặng, khe sau liên đốt sống thắt lưng, cùng mở rộng, nhân đĩa đệm bị đẩy ra phía sau vào chỗ nứt vòng xơ sau.

Nạn nhân gồng mạnh các cơ vùng lưng định đứng thẳng đột ngột nhấc vật nặng lên.

Khe trước liên đốt sống chưa kịp mở rộng để đón nhận đĩa đệm còn nằm ở phía sau thì khe sau liên đốt sống đã khép hẹp lại, kẹp chặt nhân đĩa đệm và càng làm lồi thêm ra phía sau, làm căng mạnh dây chằng dọc sau cột sống. Bệnh nhân cảm thấy đau dữ dội như điện giật, vứt bỏ vật nặng và nằm lăn ra đất (đau do dây chằng dọc sau có dây thần kinh bị kích thích).

4. Mức độ thoái hóa thứ tư

- Vòng xơ đĩa đệm thủng hoàn toàn.

- Nhân đĩa đệm rách thòi ra khỏi vòng xơ.

- Dây chằng dọc sau do bị đẩy căng cũng bị rách.

- Nhân đĩa đệm thòi ra ngoài dây chằng.

- Nhân đĩa đệm thoái vị chèn ép rễ thần kinh ở vùng lỗ tiếp hợp.

- Rễ thần kinh đau do bị viêm kích thích.

- Gai cột sống tiếp tục phát triển để cố định cột sống (không phải nguyên nhân gây đau).

Tính chất đau ở loại này gồm:

- Đau khu trú tại vùng bệnh kiểu cơ học.

- Đau lan truyền xuống chân.

Kết luận:

Các chứng đau lưng thông thường xảy ra trên cột sống do các trục trặc nhỏ không đáp ứng được công thức:

Cung = Cầu

Những yếu tố bị kích thích đau là các cơ, dây chằng và rễ thần kinh.

Gai cột sống xuất hiện ở giai đoạn cuối cùng không gây đau và còn góp phần làm hết các nguyên nhân đau khác (trừ trường hợp chèn ép rễ thần kinh do gai mỏm khớp sau).

Chúng ta có thể chữa khỏi các chứng đau lưng thông thường và phòng tránh bệnh không xảy ra nếu biết quan tâm chăm sóc chu đáo cột sống để đảm bảo cân bằng giữa cung và cầu. Cụ thể bằng các biện pháp sau đây:

1. Tránh hoặc hạn chế các tư thế lao động nguy hiểm (ngồi chồm hổm, cử động vừa cúi - ngửa lưng vừa xoay vặn mình).

2. Tuân theo các quy cách lao động an toàn.

3. Lao động hợp lý xen kẽ với nghỉ ngơi.

4. Cải tiến các phương tiện làm việc (ghế ngồi phải có tựa lưng…).

5. Khai thác tối đa các ưu đãi của thiên nhiên (ánh sáng, thực phẩm và rau quả tươi sống) để nâng cao sức khỏe.

6. Giải trí và nghỉ ngơi lành mạnh; tránh các thú tiêu khiển gây hại cho sức khỏe.

Đặc biệt quan trọng nhất là:

Học tính kiên trì luyện tập cơ thể của trẻ sơ sinh, phải tập luyện liên tục trong vòng 1 năm mới có thể đứng vững trên hai chân và đi lại bình thường.

Như câu tục ngữ đã tổng kết:

“3 tháng biết lẫy

7 tháng biết bò

10 tháng lò dò biết đi”

Muốn “thích ứng với tư thế cột sống thẳng đứng” cũng phải mỗi ngày tập thể dục phù hợp với tình trạng cá nhân mình, chú trọng các động tác nâng cao sức mạnh của cột sống.

Tác giả : GS. BS. NGUYỄN QUANG LONG (Bộ môn Chấn thương -Chỉnh hình & phục hồi chức năng ĐHYDTP)  - Theo Ykhoa

Scroll to top